Nhanh nhẹn và di chuyển nhanh, linh dương Tây Tạng có đôi chân rất mau lẹ! Loài vật này thích những vùng hẻo lánh và có thể sinh trưởng tốt ở những điều kiện khắc nghiệt nhất, với nhiệt độ tụt xuống tới -40 độ C! Để thích nghi với điều kiện khác nghiệt của cao nguyên Tây Tạng, chúng có thể tự giữ nhiệt nhờ lớp lông ấm. Mặc dù nhìn bề ngoài có vẻ là loài vật dữ nhưng thực chất linh dương Tây Tạng lại là động vật hiền lành và rất thích sống quây quần bên bầy đàn.
LOÀI VẬT NÀY ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Châu Á
TẠI SAO LOÀI VẬT NÀY QUAN TRỌNG
Linh dương Tây Tạng ăn thực vật, và điều này kích thích thực vật mọc lại cũng như đẩy mạnh sự đa dạng sinh học. Chúng cũng là mồi của một số loài ăn thịt lớn hơn, có nghĩa là chúng góp phần làm cân bằng hệ sinh thái và chuỗi thức ăn.
LOÀI VẬT NÀY BỊ NẠN BUÔN BÁN TRÁI PHÉP ĐE DỌA NHƯ THẾ NÀO
Lớp lông của linh dương Tây Tạng rất đặc biệt và gồm những sợi lông bảo vệ dài với một lớp lông tơ nhỏ hơn và mềm mượt phía trong. Loài vật này bị săn bắt trộm để lấy lông làm một loại khăn choàng cho phụ nữ có tên là khăn Shahtoosh. Mà để làm một chiếc khăn như vậy thì cần bốn tấm da sống. Những chiếc khăn choàng này nổi tiếng là đồ thời trang xa xỉ. Việc mở rộng phạm vi nuôi thả gia súc tới tận môi trường sống của linh dương Tây Tạng tạo sức ép về nguồn thức ăn. Vấn đề này trở nên trầm trọng hơn khi người ta tiến hành mở đường và xây dựng vì cả hai hoạt động này đều phá hủy môi trường sống của loài vật này và đẩy chúng vào tình cảnh sinh sống trong những không gian chật hẹp hơn.
BẠN CÓ THỂ THAM GIA BẢO TỒN NHƯ THẾ NÀO
Tìm hiểu xem các khăn choàng của bạn làm bằng chất liệu có nguồn gốc từ đâu và không mua các sản phẩm làm từ bộ lông của linh dương Tây Tạng. Khuyến khích những người quanh bạn cũng làm như vậy. Cân nhắc mua những chiếc khăn choàng làm từ sợi tổng hợp cũng giữ ấm được như thế mà không cần sản xuất từ các bộ phận của động vật hoang dã.
BẠN CÓ BIẾT?
Bộ lông của loài vật này được dệt thành khăn “shahtoosh”, có nghĩa là “vua của các loại len” trong tiếng Ba Tư.
$20,000 – Khăn choàng làm từ lông của linh dương Tây Tạng có thể lên tới 20.000 đô la.
Đười ươi thường được gọi là “con người của rừng xanh”. Chúng dành hầu hết thời gian di chuyển qua các cành cây tìm kiếm hoa quả ngon và đồ ăn ưa thích. Chúng thích được ở một mình, nhưng cũng được biết đến là có khả năng kết bạn vô cùng thân thiết với một số con khác trong đàn.
ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Indonesia và Malaysia ở trên các đảo Sumatra và Borneo.
TẠI SAO LOÀI NÀY LẠI QUAN TRỌNG
Đười ươi là một trong số những họ hàng gần gũi nhất của chúng ta và là loài khỉ lớn duy nhất được tìm thấy bên ngoài châu Phi. Cả hai loài đười ươi (đười ươi ở đảo Borneo và đảo Sumatra) đều được coi là có nguy cơ tuyệt chủng cao. Chúng phát tán hạt giống của các loại trái cây chúng ăn và giúp tái sinh rừng. Sự hiện diện của đười ươi là dấu hiệu cho thấy rừng khỏe mạnh. Khi số lượng đười ươi giảm xuống, số lượng các loài động vật và thực vật khác cũng giảm xuống.
NẠN BUÔN BÁN BẤT HỢP PHÁP ĐE DỌA LOÀI NÀY NHƯ THẾ NÀO
Đười ươi sống cả đời ở trên cây, nhưng khi cây bị đốn đi để dọn đường phát triển các dự án, chúng phải xuống mặt đất và có nguy cơ bị bắt trái phép, đặc biệt là đười ươi nhỏ mồ côi, cho việc buôn bán động vật sống và buôn bán các bộ phận cơ thể con vật. Việc buôn bán trái phép đười ươi và các loài vượn khác có thể khiến chúng phải sống trong vườn thú hoặc trở thành thú nuôi trong các bộ sưu tập tư nhân.
BẠN CÓ THỂ GIÚP BẰNG CÁCH NÀO
Hiểu rõ tác động của các thói quen tiêu dùng của mình. Đảm bảo rằng các sản phẩm bạn mua đến từ rừng bền vững. Đảm bảo rằng các sản phẩm từ dầu cọ mà bạn mua chỉ chứa loại dầu cọ có nguồn gốc bền vững.
BẠN CÓ BIẾT?
Tên đười ươi (orangutan) đến từ các từ “orang” (người) và “hutan” (rừng) trong tiếng Maylay và Indonesia, vì vậy theo nghĩa đen có nghĩa là “người rừng”. Đười ươi là loài có tốc độ sinh sản chậm nhất trên thế giới trong số các loài động vật có vú. Đười ươi cái trưởng thành về giới tính lúc khoảng 10-15 tuổi, và thường chỉ sinh một con mỗi lần sau 6-8 năm.
50% – Số lượng đười ươi đã giảm trong 60 năm qua, chủ yếu là do mất môi trường sống.
Voi là loài vật thông minh, tình cảm và có sự gắn kết gia đình rất mạnh. Loài vật khổng lồ và hiền lành này nổi tiếng với bản tính nghịch ngợm và tò mò. Con đầu đàn của một đàn voi thường được chọn không phải do sự thể hiện quyền lực của nó mà do nó được tôn trọng vì trí thông minh và các kỹ năng giải quyết vấn đề.
ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Châu Phi hạ Sahara và châu Á.
TẠI SAO LOÀI NÀY LẠI QUAN TRỌNG
Voi là loài động vật oai phong và là những “người làm vườn” của rừng rậm và thảo nguyên. Voi giúp làm nảy mầm nhiều loại cây mà sẽ không thể mọc được nếu không đi qua hệ tiêu hóa của chúng. Hàng triệu du khách toàn thế giới đi du lịch mỗi năm để nhìn thấy voi, giúp mang lại thu nhập và việc làm cho ngành du lịch ở các nước nơi chúng sinh sống.
NẠN BUÔN BÁN BẤT HỢP PHÁP ĐE DỌA LOÀI NÀY NHƯ THẾ NÀO
Loài voi bị săn trộm với số lượng lớn để lấy ngà. Trong những năm gần đây, các chuyên gia ước tính đến 100.000 con voi đã bị giết hại giữa những năm 2010-2012. Ngà voi được sử dụng cho một loạt các sản phẩm từ vòng đeo tay đến các biểu tượng tôn giáo và tác phẩm chạm khắc tinh xảo. Việc sưu tầm, đầu cơ và kinh doanh các mặt hàng ngà voi có giá cao hiện nay là động lực chính của việc giết hại bất hợp pháp loài voi.
BẠN CÓ THỂ GIÚP BẰNG CÁCH NÀO
Không chạy theo các xu hướng tiêu thụ sản phẩm từ các loài bị đe dọa. Sẽ đáng ngưỡng mộ hơn khi bạn đeo và tặng những quà tặng được làm từ các sản phẩm không gây đe dọa đến các loài động vật hoang dã. Đừng đầu tư vào ngà voi trên thị thường hàng hóa nguyên liệu hoặc nhận quà tặng từ bạn bè đi du lịch ở nước ngoài mà được làm từ ngà voi. Việc mang nữ trang bằng ngà voi từ nước ngoài vào trong nước là bất hợp pháp! Cùng tìm hiểu thêm về các dự án cộng đồng và bảo tồn mà hỗ trợ sự bảo tồn loài voi, cũng như sinh kế cho người dân sống chung với voi. Hãy góp phần hỗ trợ các dự án này và cho mọi người biết về những con voi đang trong tình trạng nguy hiểm bằng cách nói về tầm quan trọng của việc bảo vệ voi hoang dã.
BẠN CÓ BIẾT?
Những con voi cái sống trọn đời trong các gia đình voi do một con voi cái đầu đàn chịu trách nhiệm đảm bảo sự an toàn của cả đàn. Voi đầu đàn biết rõ về nơi để tìm nguồn nước khan hiếm, chỉ đạo cả đàn di cư từ hố nước này sang hố nước khác trong thời gian hạn hán, hoặc nơi để tìm các nguồn thức ăn theo mùa.
120,000 – Từ năm 2010 đến 2013 rất nhiều con voi đã bị giết hại một cách bất hợp pháp, khi xếp chồng lên nhau, các xác voi sẽ lên cao chạm đến trạm không gian quốc tế (lưu ý: điều này có nghĩa là cần 120.000 xác voi)
Nằm phía Tây Bắc của “đảo ngọc” Phú Quốc (Kiên Giang), Vinpearl Safari Phú Quốc là một điểm đến dành cho những du khách muốn hòa mình vào thiên nhiên, ngắm nhìn, tìm hiểu cuộc sống hoang dã của những loài động vật quý hiếm.
Được khai trương vào tháng 12/2015, Vinpearl Safari Phú Quốc là dự án có quy mô lớn của tập đoàn Vingroup, với mong muốn bảo tồn và góp phần tạo thêm sự phong phú về du lịch cho “đảo ngọc” vốn đã quá nổi tiếng với những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Xây dựng trên diện tích 380 ha và được quy hoạch bài bản thành hai phân khu: khu vườn thú mở và công viên động vật hoang dã. Đây là nơi sinh sống của hơn 3000 cá thể của 150 loài động vật trong đó có rất nhiều loại động vật quý hiếm trên thế giới như: hổ Bengal, sư tử Châu Phi, hươu cao cổ, ngựa vằn, tê giác… Vinpeal Safari Phú Quốc không chỉ là một địa điểm du lịch độc đáo mà còn là trung tâm bảo tồn động vật hoang dã lớn nhất Việt Nam.
Ngay từ cổng chào đón khách là khu vườn thú mở, đây là nơi sinh sống của hơn 90 loài động vật như: hồng hạc, chuột túi, lạc đà… Tuy nhiên, khác với những vườn thú thông thường, ở đây tất cả những loài động vật sẽ được nuôi trong một địa điểm mở không cần nhốt kín bằng những khung sắt nhưng vẫn tạo sự an toàn tuyệt đối cho du khách. Vườn thú mở đang nuôi dưỡng và bảo tồn những loài bản địa quý hiếm cùng nhiều loài động vật hoang dã đến từ các vùng địa sinh học đặc trưng trên thế giới như Nam Phi, Châu Âu, Ấn Độ, Úc… Xây dựng theo mô hình hiện đại, ngôi nhà của các cư dân Vinpearl Safari được thiết kế bán mở với hào nước bao quanh tạo ra môi trường sống hài hòa cùng thiên nhiên cũng như mang lại tầm quan sát chân thực và sống động nhất cho du khách.
Sau khi đã tham quan khu vườn thú mở, những chuyến xe chuyên dụng sẵn sàng đưa du khách đến với công viên động vật hoang dã để ngắm nhìn những chú sư tư, tê giác ở khoảng cách gần nhất. Đây có lẽ là trải nghiệm tuyệt vời nhất dành cho du khách vì công viên động vật hoang dã này là nơi sinh sống của 45 loài động vật quý hiếm được thả trong rừng tự nhiên, không có chuồng trại hay hàng rào ngăn cách.
Đến với Vinpeal Safari Phú Quốc du khách có cơ hội khám phá và trải nghiệm nhiều hoạt động gần gũi với thiên nhiên, giúp tăng thêm sự hiểu biết về cuộc sống của những loài động vật. Du khách sẽ cảm thấy sống động và gần gũi khi được đến với điểm khám phá hấp dẫn bậc nhất tại Việt Nam.
Men theo từng con đường nhỏ uốn mình dưới những tán cây, du khách sẽ lần lượt khám phá Thế giới Linh trưởng với sự hiện diện của Vooc Bạc, Vượn Pile, Khỉ mặt đỏ, Vượn cáo đuôi khoang…; những chú voi châu Á lững thững dạo bước bên bờ suối; khu vực các loài móng guốc mà đại diện tiêu biểu là Linh dương Ả Rập, Linh dương sừng mác, Bò tót..; hay dừng chân chiêm ngưỡng vẻ đẹp uy nghi của Hổ trắng Bengal, Sư tử châu Phi…; sự tinh nghịch của Lạc đà một bướu, hay vẻ lười nhác đáng yêu của các loài Gấu… Đồng thời, với 2 vườn chim được quy hoạch theo chủ đề vườn Công, vườn Cò, vườn Sáo, và sự duyên dáng của Hồ hồng hạc, trải nghiệm vườn thú mở là một hành trình đặc biệt thú vị đưa du khách trở về với thiên nhiên để hòa mình vào đời sống sinh động của muôn thú giữa một khu rừng yên bình.
Thời gian mở cửa: 9:00 – 16:00 các ngày trong tuần.
Một trong những điểm mới của Dự thảo Luật Chăn nuôi trình ra Quốc hội lấy ý kiến chính là đưa vào luật các quy định về phúc lợi động vật. Trong đó, với mỗi cách tiếp cận khác nhau thì sẽ đưa ra khái niệm khác nhau.
Hiện nay trên thế giới (chủ yếu là châu Âu và Bắc Mỹ) có 3 cách tiếp cận về phúc lợi động vật như sau:
Về đạo đức: Động vật được coi là sinh linh sống, chúng có linh hồn và cảm nhận, vì vậy con người cần đối xử nhân đạo với động vật. Có một mối liên hệ giữa việc ngược đãi động vật với việc hình thành tính cách thô bạo, hung hãn của con người trong gia đình và ngoài xã hội. Vì vậy, khi đối xử nhân đạo với động vật sẽ giúp hình thành các tính cách tốt, tính nhân đạo cho con người, đặc biệt tốt đối với trẻ em.
Về khoa học: Động vật, đặc biệt là loài động vật có vú và loài chim là sinh vật sống có tri giác, có hệ thần kinh trung ương, vì vậy nhóm động vật này có cảm nhận sinh học về sự đau đớn, đói khát, vui buồn. Con người cần đối xử để giảm sự đau đớn không cần thiết và tạo sự thoải mái để con vật thể hiện tập tính tự nhiên của chúng.
Ảnh minh hoạ
Về luật pháp: Động vật là vật sở hữu bởi con người, trong đó con người có thể đưa ra các quyền quyết định về sản xuất, khai thác, nghiên cứu … nhằm phục vụ mục đích khác nhau của con người. Ở góc độ này, những con vật được con người nuôi dưỡng, chăm sóc thì có thể khai thác một cách phù hợp, với động vật hoang dã thì con người hạn chế hoặc không được phép bắt giữ, đối xử tàn bạo, khai thác quá mức dẫn đến tổn hại hệ sinh thái.
Hiện nay, mặc dù vẫn còn nhiều tranh luận và mức độ áp dụng trong thực tiễn khác nhau, tuy nhiên cả châu Âu và Bắc Mỹ đã tương đối thống nhất về 3 khái niệm phúc lợi động vật, bảo vệ động vật và quyền động vật. Các khái niệm được biện giải như sau:
Phúc lợi động vật (animal welfare): Là những điều kiện về nuôi, giữ và khai thác phù hợp mà con người áp dụng nhằm đảm bảo vật nuôi không bị đói, không bị khát, không bị suy dinh dưỡng và có thể biểu hiện được tập tính của chúng; giảm hoặc không gây đau đớn không cần thiết đối với động vật khi khai thác và thí nghiệm.
Có thể thấy, khái niệm này tập trung vào vật nuôi được con người nuôi giữ, chăm sóc hoặc khai thác, nó dường như dễ áp dụng hơn trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
Bảo vệ động vật (animal protection): Động vật cần được bảo vệ, tránh các hành động đối xử tàn nhẫn, ngược đãi như bỏ đói, bỏ khát, gây đau đớn, giết hại vô cớ; cấm săn bắt và giết thịt động vật. Khái niệm này dường như tập trung hơn vào bảo vệ các thú cưng và động vật hoang dã. Nhiều nước đã áp dụng khái niệm này nhưng dường như vẫn còn khó khăn trong triển khai thực tế.
Quyền động vật (animal right): Động vật cũng có quyền cơ bản như con người (sống, di chuyển, có nơi ở, có đủ thức ăn, được đối xử bình đẳng…) và động vật cần phải được tôn trọng, bảo vệ, hỗ trợ để có đời sống tốt nhất. Quyền động vật được xem là cách đối xử cao nhất của con người với động vật so với khái niệm phúc lợi động vật và bảo vệ động vật.
Khái niệm này đang gây ra nhiều tranh cãi vì có xung đột lớn với phúc lợi con người và ngành chăn nuôi của thế giới.
Triển khai, áp dụng thế nào?
Khái niệm là vậy, nhưng mức độ triển khai về phúc lợi động vật trên thế giới như thế nào?
Các nước thuộc EU (28 quốc gia) có mức độ pháp lý khác nhau về phúc lợi động vật. Ủy ban châu Âu đã thúc đẩy phúc lợi động vật trong hơn 40 năm qua, đặc biệt là điều kiện sống của động vật nông nghiệp.
Nhiều nước thành viên EU đã xây dựng các quy định về phúc lợi động vật, bảo vệ động vật áp dụng riêng cho quốc gia đó
Một bước quan trọng trong năm 1998 là Chỉ thị của Hội đồng châu Âu 98/58/EC về bảo vệ động vật, đưa ra các quy tắc chung về bảo vệ động vật với các loài nuôi giữ để SX thực phẩm, len, da hoặc lông thú hoặc để nuôi mục đích khác, bao gồm cá, bò sát hoặc lưỡng cư. Các quy tắc này dựa trên Công ước châu Âu về bảo vệ động vật.
Ở Anh, từ năm 1979, Hội đồng Phúc lợi động vật (United Kingdom Farm Animal Welfare Council) đã đề xuất nội dung cơ bản gọi là “5 tự do” cho vật nuôi, bao gồm: Tự do – không bị đói khát, tự do – không bị ức chế, tự do – không bị đau đớn, thương tích và bệnh tật, tự do – được thể hiện tập tính, tự do – không bị sợ hãi và căng thẳng.
Các quy định pháp luật về phúc lợi động vật và bảo vệ động vật của EU đang căn cứ vào Điều 13 của Hiệp ước Lisbon để xây dựng. Chi tiết quy định như sau: “Trong việc xây dựng và thực hiện trong khối EU về nông nghiệp, thủy sản, vận tải, thị trường nội bộ, nghiên cứu và phát triển công nghệ và chính sách không gian, EU và các quốc gia thành viên coi động vật là sinh linh sống, nên phải chú trọng đến các yêu cầu phúc lợi động vật. Đồng thời tôn trọng các quy định pháp lý hoặc hành chính và phong tục tập quán của các nước thành viên liên quan đặc biệt đến nghi thức tôn giáo, truyền thống văn hóa và di sản khu vực”.
Trên cơ sở đó nhiều nước thành viên đã xây dựng các quy định về phúc lợi động vật, bảo vệ động vật áp dụng riêng cho quốc gia đó. Thậm chí nước Anh có Luật Phúc lợi cho động vật trang trại (The Welfare of Farmed Animals Regulations 2007)
Tại Bắc Mỹ, Canada có Luật Thú y và bảo vệ động vật. Mỹ đã có Luật Phúc lợi động vật của liên bang từ năm 1966 tập trung vào động vật hoang dã và động vật biển. Luật này sau đó được sửa vào năm 1970 với việc bổ sung các động vật máu nóng được sử dụng trong các thí nghiệm, triển lãm, thú cưng hoặc được bán như thú cưng.
Luật này lại được sửa tiếp vào năm 1976. Các bang có mức độ áp dụng khác nhau. Mỹ cấm đối xử thô bạo với động vật và phạt tù lên đến 20 năm cho hành vi đối xử tàn bạo với động vật rồi quay video chia sẻ với người khác vì đây được coi là hành vi kích động bạo lực và vô nhân đạo.
Tại châu Á, các nước có ngành chăn nuôi phát triển đã quan tâm đến phúc lợi động vật, bảo vệ động vật. Thái Lan đã ban hành Luật Chống đối xử thô bạo và phúc lợi động vật (Animal Cruelty Prevention and Animal Welfare Provision Act, 2557 BE); Hàn Quốc có Luật Bảo vệ động vật (Animal protection act 2014); Trung Quốc, mới chỉ có Luật Bảo vệ động vật hoang dã; vùng lãnh thổ Đài Loan ban hành Luật Bảo vệ động vật (1998) và sửa đổi 2017.
Có thể thấy, nhiều nước và vùng lãnh thổ đã thay đổi nhận thức và triển khai những văn bản pháp luật về phúc lợi động vật vào thực tiễn. Có những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi vật nuôi có điều kiện sống “hạnh phúc”, chế độ khai thác hợp lý sẽ cho sản phẩm thịt chất lượng cao hơn. Một xã hội văn minh, một ngành chăn nuôi chuyên nghiệp cần tạo điều kiện cho vật nuôi có cuộc sống “hạnh phúc”.
Việc Ban soạn thảo đưa vào Dự thảo Luật Chăn nuôi lần này khái niệm “phúc lợi động vật” là phù hợp với hội nhập quốc tế và sự phát triển của một ngành chăn nuôi chuyên nghiệp và bền vững. Một số ý kiến cho rằng phải đổi cụm từ này thành “Đối xử nhân đạo” hoặc “Bảo đảm nhân đạo” hoặc “Đối xử với vật nuôi” để đưa vào luật nhằm giúp mọi người dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, khi đổi như vậy làm cho việc dịch thuật văn bản luật này sang tiếng Anh sẽ không thống nhất. Hơn nữa, phần giải thích từ ngữ trong luật có thể giải thích rõ nội hàm của cụm từ này.
Bởi vậy, đối với các văn bản quy phạm pháp luật, việc làm rõ các khái niệm nhằm đảm bảo hiểu đúng một nghĩa, áp dụng đúng một phương án kể cả văn bản tiếng Việt và tiếng Anh cho các tổ chức, cá nhân liên quan là hết sức quan trọng.
Gấu chó sống phụ thuộc phần lớn vào rừng và nạn chặt phá rừng ở Đông Nam Á đang huỷ hoại môi trường sống của chúng với tốc độ chóng mặt.
LOÀI VẬT NÀY ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Các khu rừng nhiệt đới ở Đông Nam Á.
TẠI SAO LOÀI VẬT NÀY QUAN TRỌNG
Gấu chó phân tán hạt chưa tiêu hóa trên khắp khu vực chúng sinh sống và trên phạm vi rộng hơn nữa bởi chúng có thể di chuyển rất xa. Gấu chó là dấu hiệu về một môi trường cân bằng mà nếu không có sự tồn tại của chúng sẽ dẫn đến hiện tượng xáo trộn dinh dưỡng gây tác động đến toàn bộ hệ sinh thái đó.
VÌ SAO LOÀI VẬT NÀY BỊ ĐE DỌA BỞI NẠN BUÔN BÁN TRÁI PHÉP
Gấu chó sống phụ thuộc phần lớn vào rừng và nạn chặt phá rừng ở Đông Nam Á đang hủy hoại môi trường sống của chúng với tốc độ chóng mặt. Gấu chó cũng bị săn trộm và buôn bán trên thị trường quốc tế để trích hút mật dùng cho mục đích y tế. Những kẻ săn trộm thường giết hại Gấu chó cái để lấy con non bán làm thú cưng và những con non này khi bị đẩy ra khỏi môi trường sống tự nhiên thường sẽ phải mất nhiều năm mới có thể làm quen trở lại với thiên nhiên hoang dã.
BẠN CÓ THỂ THAM GIA BẢO TỒN NHƯ THẾ NÀO
Ủng hộ các chiến dịch chống săn trộm, khuyến khích tuần tra và giám sát các khu vực được bảo vệ thường xuyên hơn. Không mua hoặc ủng hộ các công ty bán lông, túi mật hay bất kỳ bộ phận nào khác của Gấu chó. Giúp đỡ những người đang tìm cách củng cố các luật và quy định nhằm bảo vệ Gấu chó, đồng thời truyền đạt cho nông dân ở khu vực có Gấu chó về những cách thức khác để bảo vệ mùa màng của họ thay vì bắn giết. Ngoài ra, cũng tuyên truyền cho mọi người không nuôi con non làm thú cưng.
BẠN CÓ BIẾT?
Gấu chó là loài nhỏ nhất trong số 8 loài gấu.
Cites – Gấu chó (tên khoa học là Helarctos malayanus) có tên trong Phụ lục I của CITES từ năm 1979.
30% – Số lượng Gấu chó trên toàn cầu đã giảm trong 30 năm qua.
Cá ngựa là một loài cá. Chúng sống trong nước, thở bằng mang và có bàng quang dùng để bơi. Trái ngược với hầu hết các loài cá khác, cá ngựa sống một vợ một chồng và một vài loại giao phối suốt đời. Con đực mang bầu bào thai – một hiện tượng độc nhất trong thế giới động vật. Cá ngựa có những mảng xương để bảo vệ chúng khỏi những kẻ săn mồi, mồm giống như ngựa có tác dụng tiếp cận các loài giáp xác nhỏ, và một cái đuôi cho phép chúng bám vào san hô, cỏ biển và các vật thể khác.
NƠI CHÚNG ĐƯỢC TÌM THẤY
Có 44 loài cá ngựa được công nhận, chúng được tìm thấy ở vùng biển nhiệt đới và ôn đới trên khắp thế giới.
TẠI SAO CHÚNG LẠI QUAN TRỌNG
Các con cá ngựa là một loài biểu tượng cho sự bảo tồn biển và giúp bảo vệ môi trường sống mà chúng được tìm thấy (rừng cây đước, rạn san hô, cửa sông, cỏ biển và rong biển). Các con cá ngựa là loài săn mồi quan trọng đối với các sinh vật sống ở đáy biển và, đồng thời, lại bị săn bắt bởi các động vật không xương sống, cá, rùa biển, chim biển và thủy động vật có vú. Do đó, việc loại bỏ chúng làm đổ vỡ toàn bộ hệ sinh thái.
Hơn nữa, lịch sử cuộc sống bất thường của chúng, đặc biệt là hệ thống sinh sản của chúng, cung cấp cho chúng ta một cơ hội độc đáo để tăng kiến thức về sự sinh sản của hệ sinh thái.
CHÚNG BỊ ĐE DỌA NHƯ THẾ NÀO
Các con cá ngựa được sử dụng cho mục đích làm thuốc giả sạo ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, vì chúng được cho là điều trị hen suyễn, rối loạn chức năng tình dục và sự đau đớn. Ngoài ra, chúng bị đánh bắt trái phép cho sự buôn bán thú cưng, nhưng cá ngựa không thể bị nuôi nhốt và thường chết một cách nhanh chóng. Một số cũng còn bị sấy khô và bán như vật lưu niệm cho khách du lịch. Các con cá ngựa bị nhắm là mục tiêu trực tiếp hoặc chúng bị bắt như là bị bắt lẫn trong các lượt đánh cá khác. Hơn nữa, sự hủy hoại môi trường sống gây ra một mối đe dọa lớn, bởi vì các thảm cỏ biển, các rạn san hô, và rừng cây đước mà chúng sinh sống rất nhạy cảm với ô nhiễm, biến đổi khí hậu và các rối loạn khác của con người.
Danh sách của CITES: Các con cá ngựa được liệt kê theo Phụ lục II, chứng nhận rằng chúng có thể bị đe dọa tuyệt chủng trừ khi sự buôn bán được kiểm soát chặt chẽ.
CHÚNG TA CÓ THỂ GIÚP BẰNG CÁCH NÀO
Không mua bất kỳ con cá ngựa nào để nuôi như thú cưng mà chúng bị thu thập trong nơi hoang dã, và không mua bất kỳ đồ lưu niệm hoặc các sản phẩm khác làm từ cá ngựa. Cố gắng giảm sự tiêu thụ hải sản của bạn và tránh hải sản bị đánh bắt nào không bền vững. Bạn cũng có thể ghi lại bất kỳ điều quan sát nào về cá ngựa và / hoặc theo dõi một quần thể của loài cá ngựa qua các chương trình khoa học cho công dân. Và ủng hộ cũng như hỗ trợ các khu bảo vệ biển.
BẠN CÓ BIẾT?
Vì chúng là những động vật bơi kém, cá ngựa tự bảo vệ mình bằng cách thay đổi màu sắc để hòa nhập với môi trường xung quanh của chúng.
0.5 – Là kích thước tính bằng inch của cá ngựa nhỏ nhất thế giới, cá ngựa Satomi Satgmy (13 mm).
Dù được biết đến là loài di chuyển chậm, rùa biển rất thích đi lang thang. Chậm chạp trên mặt đất nhưng lại nhanh lẹ dưới nước, loài động vật này giữ được sự cân bằng hoàn hảo giữa tính thích phiêu lưu những nơi mới và bản năng di chuyển chậm rãi, thoải mái.
ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Rùa biển sống ở hầu hết các lưu vực đại dương trên thế giới, làm ổ đẻ trứng trên các bãi biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng di chuyển từ biển này sang biển khác, thường là hàng ngàn cây số, giữa nơi kiếm thức ăn và nơi làm đẻ trứng.
NẠN BUÔN BÁN BẤT HỢP PHÁP ĐE DỌA LOÀI NÀY NHƯ THẾ NÀO
Rùa biển giúp giữ cho các chuỗi thức ăn ở biển được cân bằng. Rùa đồi mồi ăn các loài bọt biển, nếu không thì loài này sẽ chiếm chỗ của các rạn san hô. Những loài rùa khác gặm thảm cỏ biển, giúp tỉa tót và giữ gìn các môi trường này. Rùa da là loài động vật chính tiêu thụ sứa, một giống ăn ấu trùng cá. Rùa biển cũng đang là mục tiêu cho các hoạt động du lịch sinh thái ở nhiều quốc gia, là một nguồn thu nhập quan trọng cho các cộng đồng ven biển.
Rùa biển bị săn trộm để lấy thịt, trứng rùa bị thu hoạch một cách không bền vững, và mai rùa được sử dụng để làm đồ trang sức và hàng thủ công truyền thống bán cho khách du lịch. Kết hợp với các mối đe dọa khác, nạn buôn bán bất hợp pháp đe dọa sự sống còn của một số quần thể rùa.
BẠN CÓ THỂ GIÚP BẰNG CÁCH NÀO
Hỗ trợ các tổ chức đang làm việc để bảo vệ rùa biển và cung cấp sinh kế cho cộng đồng địa phương nhằm giúp bảo tồn rùa biển trong môi trường sống tự nhiên của chúng. Báo cáo các trường hợp phạm tội – kể cả việc buôn bán các sản phẩm bất hợp pháp từ rùa biển – với cơ quan thi hành pháp luật khi bạn chứng kiến những việc đó.
BẠN CÓ BIẾT?
Sau khi đến tuổi sinh sản, rùa biển cái trở lại để đẻ trứng trên chính những bãi biển nơi mà chúng được sinh ra, đôi khi là hàng thập kỷ trước đó.
1 trong 1.000 – Do các mối nguy hiểm tự nhiên phải đối mặt, chỉ có 1 trong 1.000 rùa con được dự kiến là sống sót đến tuổi trưởng thành.
Loài vẹt đuôi dài lam tía có thân được bao phủ bằng lớp lông màu xanh tinh khiết, không sợ người, trực tính và cực kỳ thông minh. Loài vẹt này luôn là tâm điểm gây chú ý! Chúng được ngợi ca là loài vẹt rực rỡ, sống động và cực kỳ thân thiện với các bạn cùng đàn. Chúng có thể sống tới tận 50 tuổi. Chúng thích làm gì cũng có cặp có đôi và rất chung thủy. Loài vẹt đuôi dài lam tía bản chất rất lành và hiếm khi bị kích động. Chúng khá tò mò và không sợ những thứ lạ mặc dù thói quen này có thể khiến chúng gặp rắc rối. Những đặc tính này khiến cho người ta rất thích nuôi chúng làm vật cảnh.
LOÀI VẬT NÀY ĐƯỢC TÌM THẤY Ở ĐÂU
Phía Nam Brazil, phía Đông Bolivia, và Đông Bắc Paraguay
TẠI SAO LOÀI VẬT NÀY QUAN TRỌNG
Loài vẹt đuôi dài lam tía đóng vai trò quan trọng trong môi trường sống do chúng phát tán hạt giống và quả hạch mà chúng ăn. Nhờ vậy hạt giống nảy mầm và thực vật tăng trưởng trong khắp vùng chúng sinh sống, tạo nền tảng cơ bản cho toàn bộ chuỗi thức ăn. Không có thực vật, vốn là nền tảng của bất kỳ hệ sinh thái nào, thì những loài động vật ăn cỏ nhỏ sẽ không có gì để ăn và hệ quả là ảnh hưởng tới số lượng các loài ăn thịt cao hơn trong chuỗi thức ăn.
LOÀI VẸT NÀY BỊ NẠN BUÔN BÁN TRÁI PHÉP ĐỘNG VẬT HOANG DÃ ĐE DỌA NHƯ THẾ NÀO
Vẹt đuôi dài lam tía luôn được săn tìm để làm vật nuôi trong nhà do chúng có màu sắc rực rỡ sống động và rất dạn người. Các đối tượng buôn bán động vật hoang dã để làm thú cưng xuất khẩu loài vẹt này chủ yếu sang Mỹ mặc dù nhiều hộ gia đình ở những nơi xuất xứ của loài chim này cũng nuôi chúng làm thú cưng. Nhiều con bị bắt nuôi (tới tận 99%) đã chết vì lâm bệnh trước khi bị bán đi.
Loài vẹt đuôi dài lam tía cũng bị giết để lấy lông vũ cho các cộng đồng nông thôn sử dụng làm mũ lông chim và các đồ mỹ nghệ. Mặc dù những đồ này trước đây chỉ dùng vào mục đích tôn giáo và không làm ảnh hưởng đến số lượng vẹt đuôi dài, nhưng gần đây khách du lịch tới những khu vực này nhiều hơn và mang về nhà các đồ lưu niệm được làm từ lông vẹt đuôi dài.
BẠN CÓ THỂ THAM GIA BẢO TỒN NHƯ THẾ NÀO
Xin nhớ rằng cách tốt nhất để thể hiện tình yêu của bạn với vẹt đuôi dài lam tía là chỉ xem chúng trên phim ảnh, sách và trong môi trường hoang dã thôi! Nếu bạn là người yêu các loài chim và đang cân nhắc mua một con về nuôi thì hãy chắc chắn rằng con đó được sinh ra trong môi trường nuôi nhốt vì việc nuôi hầu hết các loài chim hoang dã đều là bất hợp pháp! Nuôi vẹt làm thú cưng là một cam kết dài hạn vì chúng có tuổi thọ cao. Trong thiên nhiên hoang dã chúng có tính xã hội rất cao, vì vậy điều quan trọng là cần phải cân nhắc xem bạn có thể dành đủ thời gian cho chúng không, hoặc có nên sắm thêm con vẹt để chúng có bạn không. Nếu bạn thấy người ta trưng bày vẹt đuôi dài lam tía thì hãy hỏi về việc chăm sóc đời sống cho chúng. Xác định xem chúng được nuôi vì mục đích bảo tồn hay giải trí, và nếu chúng không thuộc một chương trình bảo tồn nào thì đừng xem.
BẠN CÓ BIẾT?
Mỏ của vẹt đuôi dài có thể mổ nứt vỏ dừa. Tới tầm 3-4 tuổi chúng sẽ chọn bạn đời và chung đôi cả đời.
Chim cánh cụt là loài chim không thể bay nhưng chúng có thể đạt được lên đến 15 dặm một giờ dưới nước. Chúng có cánh làm chân chèo và là thợ lặn tuyệt vời. Trên đất liền, chim cánh cụt đi thẳng đứng hoặc trượt xung quanh với cái bụng của chúng nếu điều kiện tuyết cho phép.
NƠI CHÚNG ĐƯỢC TÌM THẤY
Tất cả (khoảng) 17 loài chim cánh cụt sống riêng biệt ở Nam bán cầu ngoài chim cánh cụt Galapagos là loài chỉ đủ điều kiện sống ở Bắc bán cầu là nơi trải dài một dải đường hẹp tại xích đạo ở Quần đảo Galapagos. 4 trong số này sống và làm tổ trên và xung quanh lục địa Nam Cực và thêm 3 loài sống và làm tổ trên các đảo ở Nam Cực và cận-Nam Cực, tạo ra 7 loài có thể được coi là “Chim cánh cụt ở Nam Cực”.
TẠI SAO CHÚNG LẠI QUAN TRỌNG
Do phạm vi địa lý rộng của chúng, chim cánh cụt đóng vai trò quan trọng trong một số chuỗi thức ăn, cả là kẻ săn bắt mồi cũng như là con mồi. Trên nhiều loài chim cánh cụt, chế độ ăn uống của chúng bao gồm loài nhuyễn thể, động vật giáp xác, cá nhỏ, mực, và nhiều hơn nữa. Chúng bị săn lùng bởi hàng loạt nhiểu sinh vật, bao gồm hải cẩu, sư tử biển, một số loài chim bao gồm mòng biển, chim cướp biển và chim mỏ bọc, bạch tuộc, cá mập, và thậm chí cả động vật nuôi trong nhà như chó, mèo và chồn. Loại bỏ đi chim cánh cụt sẽ phá vỡ chuỗi thức ăn cho nhiều loài khác
CHÚNG BỊ ĐE DỌA NHƯ THẾ NÀO
Các loài chim cánh cụt khác nhau đã bị phơi bày với các cấp độ săn bắn và thu thập trứng khác nhau, và một số lượng đáng kể trong số của chúng đã thấy quần thể giảm xuống nhanh chóng. Thêm vào đó, chim cánh cụt có nguy cơ bị làm hại và bị giết do vướng vào các cuộc đánh cá và bị bắt lẫn trong các lượt đánh cá khác. Mối đe dọa đối với chim cánh cụt từ săn bắn và động vật hoang dã trở nên trầm trọng hơn do tính dễ bị tổn thương cao của chúng đối với biến đổi khí hậu, chủ yếu là do mất môi trường sống ở Nam Cực do sự kiện nhiệt độ ấm lên. Tác động này đang hạn chế khả năng tiếp cận thức ăn của chúng và đơn giản là ít hơn khi nước biển ấm lên và phá vỡ các chu kỳ sinh sản của loài cá phát triển mạnh ở vùng nước lạnh. Đánh bắt cá quá mức cũng đe dọa thức ăn chính của chúng.
Danh sách của CITES: Hiện tại, chim cánh cụt Humboldt được liệt kê trong Phụ lục I và chim cánh cụt châu Phi được liệt kê trong Phụ lục II. Nhiều loài chim cánh cụt khác không được bảo vệ bởi CITES. Tất cả các loài chim cánh cụt đều nhận được một số mức độ bảo vệ khỏi bị săn bắn và thu thập trứng theo Hiệp ước Nam Cực năm 1959, và một số loài được liệt kê trên bình diện quốc tế là “bị đe dọa” hoặc “có nguy cơ tuyệt chủng.”
CÁC BẠN CÓ THỂ GIÚP BẰNG CÁCH NÀO
Vì chim cánh cụt có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động đánh cá nói chung, việc giảm tiêu thụ hải sản của bạn và tránh hải sản có nguồn gốc không bền vững có thể giúp bảo vệ những động vật đáng được tìm hiểu này. Thêm vào đó, do tính dễ bị tổn thương của loài này đối với sự biến đổi khí hậu, việc giảm lượng khí thải carbon của bạn và bù đắp lượng khí thải của bạn là điều cần thiết.