Thông điệp bảo vệ động vật hoang dã xuất hiện trên các phương tiện giao thông công cộng

Trong thời gian gần đây, chúng ta thường xuyên bắt gặp những thông điệp về bảo vệ động vật hoang dã khi di chuyển trên một số phương tiện giao thông công cộng như xe bus, máy bay, tàu hoả,… Qua màn hình LED, hành khách có thể theo dõi những đoạn video, đoạn phim ngắn, infographic hay đơn giản chỉ là những hình ảnh xoay quanh chủ đề sự suy giảm động vật hoang dã.

Sự suy giảm động vật (Defaunation) là sự biến mất của các loài động vật trong một cộng đồng sinh thái. Trong vòng 40 năm, số động vật hoang dã giảm đến 58% do các hoạt động của con người, dự báo mức giảm này sẽ tăng lên 67% vào năm 2020. Động vật đã giảm hơn một nửa từ năm 1970, tới năm 2020, lượng động vật hoang dã chỉ còn có hơn 1/3 so với hồi năm 1970 với tốc độ suy giảm đang nằm ở mức 2% mỗi năm và không có dấu hiệu chậm đi.

Cuối đoạn phim là thông điệp kêu gọi bảo vệ rất nhân văn
Ảnh: Minh Tiến

Tại thời điểm năm 1992, Việt Nam có 365 loài động vật được xếp vào danh mục loài quý hiếm. Đến năm 2004, danh sách này đã tăng lên 407 loài, trong đó có 6 loài được coi là đã tuyệt chủng trên lãm thổ Việt Nam. Đến năm 2007, số loài bị đe dọa ngoài thiên nhiên được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam tăng lên 418 loài, trong đó có 116 loài đang ở mức nguy cấp rất cao và 9 loài coi như đã tuyệt chủng, trong đó có: tê giác hai sừngbò xámheo vòicầy rái cácá sấu hoa càhươu sao Việt Nam.

Trao đổi với phóng viên, bạn Hà Hương Lan-sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền chia sẻ: “Trước đây mình cũng không quá quan tâm đến vấn đề này. Thông qua việc đi học bằng xe bus mỗi ngày, liên tục xem được những video, số liệu đáng báo động về động vật hoang dã khiến mình có nhiều thay đổi trong suy nghĩ. Bản thân cũng đã nhận thấy con người cần phải bảo vệ chúng thay vì có những hành động làm tổn hại. Mình sẽ tuyên truyền cho bạn bè, gia đình về vấn nạn này. Cùng kêu gọi mọi người không sử dụng những thực phẩm hay đồ dùng liên quan đến động vật hoang dã” .

Truyền thông về vấn đề bảo vệ động vật hoang dã trên các phương tiện giao thông công cộng đã và đang đem lại những hiệu quả nhất định. Hy vọng rằng hình thức này sẽ sớm nhân rộng trong thời gian tới.

Hà Phương

Triển lãm ảnh “Hãy cứu tôi” truyền thông điệp bảo vệ động vật hoang dã

Sáng 1/11, triển lãm ảnh “Hãy cứu tôi” truyền thông điệp ý nghĩa tới mọi người về vấn đề cấp bách nhằm bảo tồn động vật hoang dã được tổ chức tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Triển lãm ảnh “Hãy cứu tôi” là kết quả hoạt động của dự án truyền thông do nhóm các bạn sinh viên lớp Truyền hình K37A1 tổ chức với mong muốn mang đến kiến thức góp phần thay đổi tư duy, hành động của người Việt đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc chung tay bảo vệ động vật hoang dã.

Không gian của buổi triển lãm “Hãy cứu tôi”.

Sau hai tháng hoạt động, dự án truyền thông đã nhận được nhiều phản hồi tích cực bởi các hoạt động truyền thông cũng như sự thành công từ các sự kiện đồng hành. Những bức ảnh được trưng bày tại triển lãm thể hiện góc nhìn chân thực nhất về các loài động vật trước nguy cơ tuyệt chủng và hủy diệt bởi chính con người.

Trao đổi với Phóng viên, bạn Trần Minh Tiến – Trưởng Ban Tổ chức cho biết: “Không giống như các dự án về môi trường, động vật hoang dã là một chủ đề nóng nhưng không có quá nhiều người chọn nó và cũng rất ít những phong trào kêu gọi, tuyên truyền bùng lên mạnh mẽ. Có thể đây chính là thuận lợi và cũng là khó khăn đối với nhóm mình khi chọn làm dự án này”.

Qua triển lãm này, chúng mình mong là mọi người sẽ hiểu được vai trò của động vật hoang dã đối với sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái cũng như với cuộc sống của con người” – Minh Tiến cho biết thêm.

Có mặt trong buổi triển lãm, Bạn Ngô Thế Quyền, sinh viên lớp Báo Mạng điện tử K37A1, khoa Phát thanh – Truyền hình chia sẻ: “Thật sự trước giờ mình rất ít quan tâm và tìm hiểu về vấn đề này. Qua buổi triển lãm mình cũng biết thêm được nhiều kiến thức về động vật hoang dã. Bản thân cũng đã nhận thấy con người cần phải bảo vệ chúng thay vì có những hành động làm tổn hại. Mình sẽ tuyên truyền cho bạn bè, gia đình về vấn nạn này. Cùng kêu gọi mọi người không sử dụng những thực phẩm hay đồ dùng liên quan đến động vật hoang dã”.

Nguồn: Báo Tuổi trẻ và Pháp luật

Nâng cao nhận thức bảo vệ động vật hoang dã cho học sinh bậc tiểu học

Chiều ngày 25/10, tại không gian Thư viện trường liên cấp Everest , các bạn học sinh khối lớp 5 đã có một buổi sinh hoạt lớp “đặc biệt”. Các anh chị sinh viên mang nhiệt huyết và tình yêu với các loài động vật hoang dã ghé thăm Everest cùng những kiến thức thú vị. Sự kiện nằm trong chuỗi dự án bảo vệ động vật hoang dã của nhóm sinh viên lớp Truyền hình K37A1 Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Các bạn học sinh đều chăm chú lắng nghe những thông tin bổ ích về động vật hoang dã

Sự kiện được tổ chức với mong muốn nâng cao nhận thức cho các bạn học sinh về bảo vệ động vật hoang dã trên toàn thế giới nói chung và lãnh thổ Việt Nam nói riêng. Qua sự kiện, các bạn trẻ biết thêm nhiều kiến thức về thú y đối với động vật hoang dã.

Đến với buổi giao lưu, bạn Minh Tiến-trưởng BTC chia sẻ cho các học sinh những kiến thức liên quan đến động vật hoang dã như: Hiện trạng môi trường sống của các loài, nguyên nhân nào dẫn đến sự suy giảm về số lượng các loài động vật hoang dã trong tự nhiên và chúng ta cần làm gì để góp phần bảo tồn và duy trì môi trường sống lành mạnh cho các loài động vật hoang dã .

Chia sẻ tại sự kiện, BTC cho rằng thế hệ trẻ nhìn thấy các loài động vật hoang dã trong tự nhiên ngày càng hiếm hoi vì cơ hội đi thực tế còn ít và số lượng các loài ngày càng giảm. 

Khi được hỏi “Ai sẽ cùng anh chị bảo vệ ĐVHD?”, các bạn học sinh đồng loạt giơ cao cả 2 tay để thể hiện sự quyết tâm
Không thể thiếu phần checkin cùng hastag của sự kiện

Xem thêm video tại: https://www.facebook.com/hoang.protectwildlife/videos/435122063806961/?epa=SEARCH_BOX

Hãy like fanpage của HOANG để theo dõi và cập nhật những thông tin về sự kiện sắp diễn ra:

https://www.facebook.com/hoang.protectwildlife/?epa=SEARCH_BOX

Hà Phương

Đừng để Việt Nam là nguyên nhân khiến động vật hoang dã tuyệt chủng

Báo cáo của Liên Hợp Quốc trong năm 2019 cho thấy có tới 1 triệu loài trong số khoảng 8 triệu loài sinh vật trên thế giới đang bên bờ vực tuyệt chủng. Loài người chưa từng đứng trước mối đe doạ lớn như vậy. Việt Nam đã mất nhiều loài mang tính biểu tượng. Con tê giác cuối cùng ở Việt Nam bị giết năm 2010. Thêm vào đó, nhức nhối và buồn hơn khi Việt Nam không chỉ là điểm trung chuyển mà còn là điểm đến của nạn buôn bán động vật hoang dã.

Nhức nhối nạn buôn lậu động vật hoang dã

Tại buổi hội thảo hôm 2.10 về bảo tồn các loài hoang dã do Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội tổ chức, Đại sứ Nam Phi tại Việt Nam Mpetjane Kgaogelo Lekgoro thông tin, tội phạm về buôn bán động vật hoang dã mang lại lợi nhuận cao nhất trong 4 loại tội phạm trên toàn cầu. Nguy hiểm hơn, tội phạm buôn bán động vật hoang dã luôn luôn là tội phạm xuyên quốc gia, thủ đoạn tinh vi, phức tạp, liên quan đến cả các hoạt động buôn bán người, rửa tiền, khủng bố… Trong khi đó, Nam Phi là mảnh đất của voi, tê giác, nơi diễn ra nhiều hoạt động săn bắn trái phép và buôn lậu trên quy mô lớn. Đại sứ Lekgoro cho biết, Công viên Quốc gia Nam Phi đang có sự suy giảm đáng kể loài tê giác, trong khi tê giác đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học, là nguồn đóng góp nâng cao thu nhập về du lịch. Từ năm 2014, chính phủ Nam Phi đề ra chiến lược quản lý sừng tê giác và đứng đầu chiến tuyến chống nạn săn ngà voi và sừng tê giác.

Hà Nội bắt giữ hơn 125kg sừng tê giác nhập lậu qua đường hàng không, tháng 7.2019. Ảnh: AFP/Getty Images

Trong khi đó, một điều đáng buồn là Việt Nam vừa là điểm trung chuyển, vừa là điểm đến số 1 thế giới của sừng tê giác, các bộ phận của hổ, ngà voi, vẩy tê tê. Bà Nguyễn Phương Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV) cho biết, năm 2015 đỉnh điểm 1.300 cá thể tê giác bị giết ở Nam Phi, Việt Nam cách xa hàng nghìn dặm nhưng là nguồn thúc đẩy sát hại tê giác ở Nam Phi và không thể phủ nhận vai trò của Việt Nam trong các hoạt động buôn bán trái phép sừng tê giác.

Còn theo bà Nguyễn Hương, Giám đốc truyền thông của Tổ chức Bảo tồn Động vật Hoang dã (WCS), Việt Nam ngoài việc là thị trường cuối và là quốc gia tiêu thụ, còn là quốc gia trung chuyển cho đường dây buôn bán trái phép ngà voi, sừng tê giác và các sản phẩm động vật hoang dã khác từ Châu Phi sang các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Do thông thương thuận tiện, kết nối đường xuyên Á thuận lợi, nên các tổ chức tội phạm dễ dàng trung chuyển từ Nam Phi, Congo, Kenya bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không đến Singapore, Malaysia và Việt Nam, cụ thể là Đà Nẵng và Hải Phòng. Tội phạm buôn bán động vật hoang dã tăng lên hàng ngày, hàng giờ nhờ tận dụng toàn cầu hoá và công nghệ. Cuộc cách mạng 4.0 vô tình chắp cánh cho tội phạm với thực tế là mạng xã hội và Internet tràn ngập rao bán công khai các sản phẩm động vật hoang dã. Trong khi đó, tội phạm về buôn bán động vật hoang dã có độ rủi ro thấp vì không có nạn nhân trực tiếp là con người, trong khi lợi nhuận lại cao, ước tính từ 7-23 tỉ USD/năm, và hình phạt ở một số nước còn nhẹ. Tất cả những nguyên nhân này khiến cho các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn hoành hành.

Tại Việt Nam, số liệu thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao cho thấy, trong năm 2018 có 1.504 vụ vi phạm liên quan đến động vật hoang dã, thu giữ 41.328kg các cá thể và sản phẩm từ động vật hoang dã, thu về ngân sách 16 tỉ đồng tiền phạt. Các tỉnh có tỉ lệ cao các vụ vi phạm là Lạng Sơn 102 vụ, Quảng Ninh 69 vụ, Hà Nội 122 vụ, trong đó các điểm đặc biệt nóng là điểm giao tuyến đường Hà Nội – Lạng Sơn và Hà Nội – Móng Cái, nơi giáp biên giới với Trung Quốc. WCS cũng tổng hợp số liệu từ báo chí cho biết, từ tháng 5 đến tháng 7.2019 ở Việt Nam đã ghi nhận 34 vụ buôn lậu động vật hoang dã, chủ yếu là ngà voi, vảy tê tê, tịch thu 51.370kg sản phẩm. Trong khi đó, theo số liệu của ENV, tổng số vụ vi phạm về buôn bán trái phép động vật hoang dã từ năm 2005-2018 là 43.849 vụ. Từ tháng 1-6.2019 có 729 vụ vi phạm liên quan đến các loài tiêu biểu là gấu, hổ, tê giác, ngà voi, vẩy tê tê và rùa biển.

Vì đâu?

Chưa thể triệt tiêu tội phạm buôn bán động vật hoang dã bởi nó vẫn có môi trường phát triển. Tâm lý sừng tê giác chữa ung thư, làm lành vết thương vẫn còn khá phổ biến nên chính con người hình thành những tổ chức tội phạm quốc tế để bằng mọi cách buôn bán các sản phẩm này. Theo Phó Đại sứ Anh tại Việt Nam Steph Lysaght, bây giờ chúng ta đã có thuốc chữa bệnh chứ đừng lầm tưởng về tác dụng của các loài vật này, nên mỗi người cần phải lên tiếng nói rằng điều này là sai trái và thay đổi quan điểm. Nếu không, chính nhu cầu của con người giúp hình thành các tổ chức tội phạm quốc tế buôn bán động vật hoang dã.

Ngoài ra, việc tiêu thụ các sản phẩm động vật hoang dã diễn ra ở mọi nơi, từ nông thôn đến thành thị. Nhà hàng bán mật gấu, người ta ăn cả trứng rùa biển để thể hiện đẳng cấp. ENV cho biết, gấu trong tự nhiên ở Việt Nam không có con số chính xác, nhưng số lượng gấu bị nuôi nhốt trên cả nước hiện có khoảng 700 con, lớn hơn nhiều so với tự nhiên. Ngoài ra, quần thể voi ở Việt Nam cũng giảm 99% trong 20 năm qua. Hổ trong tự nhiên ở Việt Nam còn khoảng 10 cá thể và đang giảm nhanh.

Đi tù vì buôn lậu động vật quý hiếm sẽ không còn “hiếm”

Năm 2018 đánh dấu một khởi đầu mới trong nỗ lực ngăn chặn tình trạng buôn bán động vật hoang dã tại Việt Nam. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink hoan nghênh việc Việt Nam sửa đổi bộ luật hình sự, theo đó áp dụng án tù giam đến 15 năm và phạt tiền đến 15 tỉ đồng cho các hành vi buôn bán trái phép động vật hoang dã.

Bà Nguyễn Phương Dung cho rằng, thành công lớn của Việt Nam trong năm 2018 là lần đầu tiên 2 bản án tù giam đã được tuyên với 2 đối tượng cầm đầu các đường dây buôn bán động vật hoang dã lớn xuyên quốc gia, xét xử theo Bộ luật hình sự 1999 – sửa đổi bổ sung 2009. Trong đó, đối tượng Hoàng Tuấn Hải đã chịu án 4 năm 6 tháng tù giam cho hành vi buôn lậu trái phép rùa biển. Phải mất 2 năm để đối tượng này bị khởi tố. “Chúng tôi ở ENV nói đùa rằng chúng tôi dành cả tuổi thanh xuân để đưa Hoàng Tuấn Hải vào tù” – bà Dung nói. Đối tượng thứ hai là Nguyễn Mậu Chiến, cầm đầu đường dây buôn lậu động vật hoang dã lớn tại Việt Nam cũng nhận 16 tháng tù giam cho hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép sừng tê giác và các sản phẩm khác.

Trong cuộc chiến chống buôn lậu động vật hoang dã, Việt Nam không đơn độc, như Phó Đại sứ Anh Steph Lysaght khẳng định “không đổ tội cho Việt Nam” mà Việt Nam chỉ là một phần trong cuộc chiến chống buôn bán trái phép động vật hoang dã. Việt Nam có thể làm nhiều hơn nữa, và cộng đồng quốc tế như Anh, Mỹ, các tổ chức phi chính phủ sẵn sàng chung tay cùng Việt Nam trong cuộc chiến cam go này.

Đại sứ Nam Phi nhấn mạnh đến nỗ lực thúc đẩy hợp tác quốc tế để xử lý tội phạm. Nam Phi có sở dữ liệu ADN lớn về tê giác, có thể hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc các sản phẩm bị bắt giữ để điều tra tội phạm và đưa ra xét xử.

Đại sứ Mỹ Daniel Kritenbrink cho biết, tháng 4.2019, Cục Cá và Động vật Hoang dã Mỹ đã ký với Bộ Công an Việt Nam bản ghi nhớ về hợp tác chống buôn bán động vật hoang dã. Từ đầu năm 2020, Đại sứ quán Mỹ bắt đầu có tuỳ viên về buôn bán động vật hoang dã. Ngoài ra, Mỹ đã hợp tác với Việt Nam trong cuộc chiến này thông qua chương trình Saving Spices với các mục tiêu là cải thiện khuôn khổ pháp lý, hỗ trợ cho lực lượng thực thi pháp luật như công an, kiểm lâm, hải quan nâng cao năng lực, đồng thời làm việc với cộng đồng để nâng cao nhận thức giảm nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm phi pháp này. “Hãy cùng nhau nỗ lực hơn nữa để con cháu của tôi và quý vị được sống trong một thế giới mà cảnh quan hoang dã không chỉ có trong sách vở mà có trong đời thực. Tương lai tươi đẹp đó sẽ chỉ được đảm bảo nếu có nỗ lực chung” – Đại sứ Kritenbrink nhấn mạnh.

Nguồn: Báo Lao động

Nhức nhối buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp

Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên – WWF ước tính, buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp trị giá khoảng 20 tỷ USD mỗi năm và là hoạt động bất hợp pháp có lợi nhuận đứng thứ tư sau ma túy, buôn người và làm hàng giả.

Một nghiên cứu quốc tế mới được công bố trên Tạp chí Science cho thấy, thương mại toàn cầu về động vật hoang dã thậm chí còn có phạm vi lớn hơn và gây hại cho đa dạng sinh học hơn mức những nhà bảo tồn nhận thấy trước kia.

Hàng nghìn loài là “nạn nhân”

Các nhà nghiên cứu đã phân tích tất cả các loài sống trên cạn từ cơ sở dữ liệu động vật hoang dã của CITES và IUCN, tìm kiếm bất kỳ bằng chứng nào về giao dịch. Phân tích dữ liệu của tất cả 31.745 loài động vật có xương sống trên cạn, các nhà nghiên cứu tại các trường Đại học Sheffield và Florida phát hiện 5.579 loài động vật có vú, chim, bò sát và lưỡng cư (18% tổng số) bị buôn bán hợp pháp hoặc bất hợp pháp trên thị trường thế giới. Con số này cao hơn khoảng 50% ước tính trước đó. Dự án cũng xác định thêm 3.196 loài động vật chưa được xác định bị buôn bán nhưng có những đặc điểm dễ khiến chúng bị giao dịch trong tương lai để làm thú cưng hoặc lấy thịt, da, làm thuốc, hoặc lấy sừng, răng hoặc vảy.

David Edwards, Giáo sư khoa học bảo tồn thuộc Đại học Sheffield và là người đứng đầu dự án chỉ rõ: “Buôn bán động vật hoang dã là một mối đe dọa tuyệt chủng lớn đối với hàng ngàn loài chim, động vật có vú, động vật lưỡng cư và bò sát” trên quy mô tương tự như thay đổi mục đích sử dụng đất, xâm lấn của con người và biến đổi khí hậu. Không gấp rút tập trung vào việc làm thế nào để ngăn chặn cả cung và cầu đối với các loài bị bắt từ tự nhiên, mối nguy hiểm thực sự là chúng ta sẽ mất nhiều loài hiện đang được buôn bán”.

Ảnh minh họa: Internet.

Nghiên cứu đã xác định các điểm nóng nơi động vật bị bắt và buôn bán khắp các vùng nhiệt đới trên thế giới, nơi động vật hoang dã đa dạng và phong phú nhất, đặc biệt là ở châu Phi và Đông Nam Á (động vật có vú), Nam Mỹ và châu Phi (chim), Nam Mỹ (động vật lưỡng cư) và Úc (bò sát)… Đông Á là nơi có nhiều người mua nhất.

“Động vật có giá trị trên thị trường vì chúng có những điều đặc biệt. Đơn cử như những con chim có màu sắc rực rỡ đang được ưa chuộng, cũng như những động vật là nguồn cung cấp ngà. Khi một loài bị buôn bán đến cạn kiệt, những loài có đặc điểm tương tự sẽ trở thành mục tiêu của thương mại”, theo Brett Scheffers thuộc Đại học Florida.

Bằng chứng là một loài có thể nhanh chóng bị đe dọa nghiêm trọng nếu nhu cầu tăng đột ngột. Điều này đã xảy ra trong thập kỷ qua đối với Hồng hoàng mũ cát và tê tê Sunda. Khi tê tê châu Á suy giảm, chúng được thay thế bằng tê tê châu Phi. Nhóm tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, thương mại tuân theo mô hình phản hồi giá trị theo độ hiếm. Độ hiếm tăng lên sẽ thúc đẩy cả nhu cầu cao hơn và giá cao hơn.

Gấp rút tìm công nghệ mới quản lý

Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển  (UNCTAD) diễn ra mới đây, đã bàn về vấn đề ứng dụng một công nghệ mới vào quản lý buôn bán động vật hoang dã, giúp các quốc gia ngăn chặn tình trạng buôn bán bất hợp pháp các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Giám đốc Bộ phận công nghệ và Hậu cần của UNCTAD, bà Shamika Sirimanne cho biết, hệ thống này sẽ cải thiện đáng kể việc quản lý buôn bán động vật hoang dã toàn cầu. Giải pháp dựa trên nền tảng điện toán đám mây có tên là “eCITES BaseSolution” nhằm giảm bớt các công đoạn trong việc cấp giấy phép thương mại, do hệ thống này cung cấp sự hỗ trợ tự động cho quá trình xin giấy phép, xử lý, cấp phép và thông báo. Nhờ đó, các quốc gia sẽ tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong kiểm tra và cấp phép, tạo điều kiện cho các cơ quan cung cấp dịch vụ tốt hơn. Nhà chức trách sẽ được hưởng lợi nhờ có báo cáo nhanh hơn và dữ liệu tốt hơn, kịp thời kiểm tra và xác định các cá nhân và tổ chức vi phạm pháp luật.

UNCTAD đang thí điểm hệ thống trên với Cơ quan Bảo tồn động vật hoang dã Sri Lanka, bước đầu cho thấy, kết quả tích cực khi cơ quan này có thêm năng lực kiểm soát việc buôn bán hợp pháp các loài được liệt kê trong Công ước CITES và giúp ngăn chặn tình trạng buôn bán bất hợp pháp.

Bà Sirimanne cho biết, giấy phép điện tử nói trên có thể được triển khai ở các quốc gia khác thông qua thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật của UNCTAD trong thời gian tới.

Hiện đã xác định được sự hiện diện của lực lượng buôn bán trái phép các loài ĐVHD ở khoảng trên 80 quốc gia. Buôn bán các loài chim tập trung ở khu vực Trung và Nam Mỹ, các loài thú ở Châu Phi và Châu Á, trong khi Châu Âu và Bắc Mỹ là nơi tập trung buôn bán các loài bò sát.

Hiện đã xác định được sự hiện diện của lực lượng buôn bán trái phép các loài ĐVHD ở khoảng trên 80 quốc gia. Buôn bán các loài chim tập trung ở khu vực Trung và Nam Mỹ, các loài thú ở Châu Phi và Châu Á, trong khi Châu Âu và Bắc Mỹ là nơi tập trung buôn bán các loài bò sát.Văn phòng Liên Hợp Quốc về phòng chống ma túy và tội phạm – UNDOC

Nguồn: thiennhien.net

Chim biển ăn dây thun cao su vì nhầm là giun trong nhiều thập kỷ

Đảo Mullion ngoài khơi Cornwall ở Anh là một khu bảo tồn dành cho các loài chim biển, nơi không có con người sinh sống và nếu muốn đặt chân lên đây phải có giấy phép. Thế nhưng, các nhà bảo tồn lại tìm thấy hàng nghìn dải dây thun cao su ở đây.

Dây thun và rác thải đánh bắt cá được thu thập từ phân chim trên đảo Mullion.

Tại sao hàng nghìn dây thun cao su xuất hiện trên đảo chỉ dành cho chim biển ở Anh? Sau các cuộc điều tra, các kiểm lâm viên nghĩ rằng họ đã tìm ra thủ phạm. Đó là những con chim, những con mòng biển lưng đen tuyệt vời (Larus marinus) và những con mòng biển cá trích (Larus argentatus) tìm kiếm thức ăn trên đất liền và nhầm những dải thun cao su là giun.

Một lượng lớn các dải thun cao su đã được tìm thấy trong phân chim lẫn cùng khối lượng thực phẩm khó tiêu như xương và lông mà một số loài chim thải ra. Một số dây thun có vẻ mới, nhưng nhiều loại đã cũ và xuống cấp. Vì thế, các chuyên gia hàng đầu suy đoán rằng những con chim đã ăn chúng trong nhiều thập kỷ.

Các chuyên gia cho rằng, những con chim tìm thấy các dây thun cao su trên các cánh đồng làm vườn ở đất liền, nơi dây thun được sử dụng để buộc những bó hoa.

Dây thun cao su không phải là loại rác duy nhất của con người được tìm thấy trong phân chim. Các chuỗi và lưới đánh cá cũng được tìm thấy. Nhóm nghiên cứu thậm chí còn tìm thấy một con chim đã chết sau khi vướng vào lưỡi câu lớn.

Nhà bảo tồn Mark Grantham từ West Ringwall Group kể lại: “Trong một chuyến giám sát trên đảo vào mùa sinh sản của chim, chúng tôi lần đầu tiên nhận thấy các dây thun cao su và đã bối rối tại sao lại có quá nhiều và làm thế nào để số dây thun này lại có trên đảo”.

“Để tránh làm phiền những con chim đang làm tổ, chúng tôi đã quay trở lại đây trong một chuyến đi đặc biệt vào mùa thu để dọn rác. Chỉ trong vòng một giờ, chúng tôi đã thu thập được hàng nghìn băng dây thun và một số chất thải đánh bắt cá”, nhà bảo tồn cho biết.

Không còn cá, chim mòng biển thường ăn cắp thức ăn của loài người.

Những con mòng biển thường được xem là loài chim gây phiền toái vì chúng ồn ào, khàn khàn và thích lấy trộm những món ăn vặt của con người. Từ năm 1969 đến 2015, quần thể mòng biển cá trích châu Âu của Anh đã giảm 60% do ảnh hưởng trực tiếp của con người, bao gồm thay đổi nguồn cá làm thức ăn và xáo trộn địa điểm làm tổ. Có lẽ đó là một phần lý do tại sao chúng bắt đầu sống trong thị trấn và ăn cắp rác.

Đối với con mòng biển lưng đen mọi thứ cũng không có vẻ gì là màu hồng. Trong những năm gần đây, số lượng sinh sản của nó thay đổi và mùa sinh sản gần đây nhất rất nghèo nàn, nhà bảo tồn Grantham cho biết.

Kiểm lâm khu vực Rachel, Chủ tịch National Trust, nơi quản lý hòn đảo cho biết: “Những nơi như đảo Mullion nên là nơi tôn nghiêm cho các loài chim biển, vì vậy thật đau khổ khi thấy chúng trở thành nạn nhân của hoạt động của con người.”

Đảo Mullion nhỏ bé, nhiều đá và không có dây. Chỉ có những con chim và thảm thực vật thấp sống ở đó, vì vậy nó nên là một nơi an toàn cho những con chim làm tổ. Nhưng rác thải của con người không chỉ đến được đây mà còn tìm được đường đến những địa điểm xa xôi hơn – vùng hoang vu băng giá ở Nam Cực và vùng sâu thẳm của rãnh Mariana.

Và, như chúng ta đã thấy cá voi ăn phải rác thải của con người đã dẫn đến chết đói.

National Trust hiện đang yêu cầu các doanh nghiệp và người dân địa phương xem xét lại cách họ xử lý các chất thải, bao gồm nhựa, mủ cao su và cao su.

“Các vật liệu sử dụng một lần đang có tác động đáng báo động ở những nơi xa xôi nhất của đất nước chúng ta”, bà Lizzy Carlyle, Trưởng phòng Thực hành Môi trường tại National Trust nói. “Tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm về cách chúng ta sử dụng và thải bỏ các mặt hàng này – cho dù chúng ta là nhà sản xuất hay người tiêu dùng”.

Nguồn: thiennhien.net

Sự hấp dẫn khác lạ của động vật hoang dã lúc vào thu

Giờ đang là mùa thu, đối với con người thường đây là mùa đẹp nhất mà họ muốn tận hưởng và lên kế hoạch cho những ngày nghỉ lễ. Ngược lại, đối với nhiều loài động vật, đây chính là mùa chúng căng mình chuẩn bị cho mùa đông đang dần tới.

Một con nai sừng tấm xuất hiện từ các bụi cây trong mùa thu trên vùng lãnh nguyên Alaska. Ảnh: JOHN EASTCOTT và YVA MOMATIUK

Cuộc chiến giành bạn tình của loài nai sừng tấm

Từ tháng 9 đến tháng 10, đối với các loài trong họ hươu nai đây là mùa giao phối. Trong ảnh là một con nai sừng tấm cô độc đầy sung mãn đang sẵn sàng chiến đấu với các con đực khác để tranh giành con cái. Đây là một loài động vật hoang dã sống ở phía bắc Hoa Kỳ, Canada, Alaska và Bắc Âu.

Sự gia tăng testosterone khiến lớp da mềm mại phủ trên gạc nai sừng tấm bị bong ra, biến thành vũ khí sắc bén trong trận chiến.

Nghiên cứu kéo dài gần 40 năm tại Công viên Quốc gia Denali của Alaska đã phát hiện ra rằng những con đực chiến thắng này thường là con lớn nhất và có thứ hạng cao nhất, chịu trách nhiệm cho 88% các cuộc giao phối với con cái. Con cái sinh ra nai con vào mùa xuân, thường bắt đầu vào cuối tháng 5.

Mùa thu – mùa “thay áo” của nhiều loài chim

Một con le hôi cổ đen có bộ lông mới thay bơi trên một hồ nước ở New Mexico. Ảnh: TIM FITZHARRIS

Trong khi các loài chim bay về phía nam để trú đông, có một số loài bỏ dở hành trình và dừng chân trên đường đi vào mùa thu.

Sau khi rời khỏi tây bắc Thái Bình Dương và trung tây Hoa Kỳ, những con le hôi cổ đen đã tìm được số lượng lớn thức ăn và “lột xác” tại hồ Mono ở California và hồ Great Salt ở Utah. Các loài khác nghỉ ngơi giữa chừng còn có hải âu của Franklin dừng chân trên Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, vịt Bắc Mỹ dừng chân trên Hồ Lớn, dẽ lưng nâu và các loài chim lội khác dừng chân ở nhiều bãi biển khác nhau.

Hàng năm, loài chim dẽ lưng nâu di chuyển từ Bắc Cực tới Nam bán cầu rồi quay về. Chúng sẽ bay một chặp khoảng 1.500 dặm và sau đó dừng lại để nghỉ ngơi, ăn uống, và rụng lông ở những nơi này một cách chung thủy vào cùng thời điểm mỗi năm.

Loài gấu kiên cường

Một con gấu xám ngọam chặt một con cá hồi mới bắt được ở Yukon của Canada. Ảnh: PETER MATHER

Vào mùa thu, các loài gấu Bắc Mỹ bỗng nhiên bị chứng “thèm ăn” và bận rộn ăn và uống càng nhiều càng tốt để tăng cân cho giấc ngủ đông dài.

Trong khi mọi người sẽ phải chịu hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe khi béo phì và không hoạt động kéo dài, nhưng một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Communications Biology cho thấy gene của loài gấu xám được điều chỉnh khác nhau trong mùa thu và mùa đông để đối phó với sự thay đổi trong sinh hoạt.

Thí dụ, trong thời gian ngủ đông, gene của gấu xám giảm độ nhạy cảm với insulin, do đó lượng đường trong máu của chúng vẫn ở mức bình thường và lượng đường ấy sử dụng cho não trong thời gian ngủ dài.

Điều này cũng cho phép các động vật có vú lớn chuyển hóa chất béo trong quá trình ngủ đông, chức năng mà khi ngủ con người không thể làm được, Joanna Kelley, đồng tác giả nghiên cứu, một nhà di truyền học tiến hóa tại Đại học bang Washington cho biết.

Loài bọ rùa háu ăn

Nhà côn trùng học tại Đại học Maryland Mike Raupp cho biết, có khoảng 5.000 loài bọ rùa và nhiều loài bọ cánh cứng như bọ cánh cứng châu Á nhiều màu đang xâm lấn ở Bắc Mỹ. Chúng sẽ vỗ béo bằng hàng nghìn con rệp và con mồi thân mềm mỗi dịp vào thu. Sau bữa tiệc này, những con côn trùng sẽ tụ tập thành một khối lớn, nơi chúng sẽ bước vào trạng thái không hoạt động để chờ đợi mùa đông dài.

Bọ rùa thích chui trong các kẽ hở của các mỏm đá, nhưng đôi khi chúng lại tụ tập thành khối bên chái nhà của con người, trông như một bề mặt được chạm khắc tuyệt đẹp, Raupp ví von.

Bọ rùa này thường không được chú ý bởi những kẻ săn mồi, nhưng nếu một con vật háu đói nào đó phát hiện ra khối bọ rùa này mà không chú ý đến màu sắc cảnh báo của chúng, thì lũ côn trùng có thể chuyển sang phản xạ tiết dịch. Mùi bọ xít nồng nặc sẽ khiến kẻ săn mồi thất vọng ngậm ngùi, ông Raupp nói.

Chim “ngủ đông”

Trong khi những con chim khác đang bận rộn bay về phía nam tránh rét trong mùa đông, thì loài cú muỗi phổ biến ở miền tây Bắc Mỹ và Mexico ở lại.

Những thành viên sống về đêm này thuộc họ cú muỗi, là loài chim duy nhất biết rơi vào một trạng thái tương tự như ngủ đông, khi đó thân nhiệt của chúng có thể hạ xuống.

Một con chim cú muỗi hòa mình vào môi trường xung quanh ở British Columbia, Canada. Ảnh: JARED HOBBS.

Cách loài chim này ngủ đông là làm tổ trên mặt đất, nơi chúng có thể ngụy trang lông màu nâu lốm đốm của mình khiến chúng gần như vô hình. Giống như động vật có vú, chim cú muỗi có trọng lượng cao nhất trước khi chúng ngủ đông, ông Mark Brigham, một nhà sinh vật học tại Đại học Regina ở Saskatchewan cho biết.

Trong nghiên cứu của mình ở Arizona, ông Brigham đã phát hiện ra những con chim cú muỗi ngủ đông thường hướng mặt về phía tây nam, vì vậy, mặt trời buổi chiều sẽ giúp sưởi ấm chúng để bổ sung cho quá trình trao đổi chất của cơ thể.

Brigham là đồng tác giả của một nghiên cứu, được công bố năm nay trên tạp chí Oecologia, cho thấy chim cú muỗi ngủ trung bình khoảng năm ngày, nhưng một con chim đặc biệt buồn ngủ đã ngủ trong 45ngày.

Nguồn: thiennhien.net

Bẫy – mối đe dọa lớn nhất đối với động vật hoang dã ở Đông Nam Á

Bẫy được làm bằng dây trở thành mối đe dọa lớn nhất đối với động vật trên cạn ở Đông Nam Á, đe dọa sự tồn tại của nhiều loài.

Những chiếc bẫy rẻ tiền và đơn giản, được làm từ dây phanh xe đạp và xe máy, được các thợ săn ở Đông Nam Á sử dụng để bắt những loài động vật mọi người mua làm thức ăn như lợn rừng, hươu, cầy và nhím.

Thomas Gray, giám đốc khoa học thuộc Wildlife Alliance, chỉ ra vấn đề từ bẫy là nó gây nguy hiểm cho mọi động vật dù chúng không phải là mục tiêu. Những con thú bị dính bẫy nhưng không có giá trị buôn bán thường bị bỏ mặc cho thối rữa.

Ngày nay, nhiều loài từng hiện diện đông đảo khắp các khu rừng ở Đông Nam Á như gấu chó, thỏ vằn, mèo gấm, lửng lợn và khỉ hiếm khi được nhìn thấy – hiện tượng này được các nhà bảo tồn gọi là “hội chứng rừng rỗng”.

“Ở một số khu vực, không có loài động vật có vú nào lớn hơn một loài gặm nhấm còn lại”.

Từ 2010 đến 2015, các nhóm tuần tra gỡ bỏ hơn 200.000 cái bẫy tại các khu bảo tồn ở Campuchia, Việt Nam và Lào, tuy nhiên, họ vẫn không thể theo kịp những kẻ săn trộm.

Ban đầu, bẫy được làm từ các sản phẩm tự nhiên trong rừng nên không mấy chắc chắn và có thể phân hủy được. Tuy nhiên, bẫy dây có thể tồn tại trong nhiều năm và không cần nhiều kỹ năng để sản xuất, gây nguy hiểm lớn cho bất kỳ động vật nào tiếp xúc với nó.

Theo Gray, mặc dù hành động đặt bẫy là bất hợp pháp tại các khu bảo tồn nhưng không mấy rủi ro vì đến nay chưa ai bị bắt trong khi đặt bẫy.

Niềm yêu thích thịt rừng – thứ được coi là thực phẩm sành điệu trong giới tinh hoa đô thị, mặc dù là bất hợp pháp – là một lý do khác cho số lượng ngày càng nhiều bẫy được đặt để bắt động vật hoang dã. Thợ săn, những người từng đặt bẫy bắt thú để phục vụ nhu cầu bản thân, giờ đây phải vào sâu hơn trong rừng để tìm con mồi.

“Nếu ai đó đang đi trong rừng mà mang theo vật liệu làm bẫy – chẳng hạn như 50 dây cáp phanh xe máy – rõ ràng họ đang có kế hoạch đặt bẫy”, ông cho rằng ngay cả ý định đặt bẫy cũng nên được coi là một tội nghiêm trọng.

Theo Regine Weckauf, cố vấn buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp thuộc FFI, khiến mọi người hiểu và ngừng tiêu thụ thịt rừng cũng sẽ góp phần ngăn chặn nạn săn trộm đang diễn ra.

“Ở nông thôn, mọi người thường ăn thịt rừng vì họ thích mùi vị. Thông thường, họ không ý thức rằng thịt được bán bất hợp pháp. Ở thành phố, nhiều người tiêu dùng biết rằng thịt hoang dã là bất hợp pháp, do đó, việc cung cấp nó cũng gửi ra thông điệp ‘không ai làm gì được tôi’. Chúng ta cần hiểu lý do tại sao mọi người tiêu thụ thịt rừng và cách tốt nhất là thuyết phục họ dừng lại”.

Mặc dù Wildlife Alliance đã có thể kiềm chế các hoạt động của những kẻ săn trộm bằng cách hợp tác với Chính phủ Campuchia, Gray tin rằng điều đó là không đủ, để giải quyết thỏa đáng vấn đề họ đang gặp phải thì cần nhiều nhân sự hơn, nhiều thiết bị hơn và cần thực hiện nhiều khóa đào tạo hơn nữa.

Liên minh Động vật hoang dã, hiện có 110 thành viên, đã tịch thu 20.000 chiếc bẫy và phá hủy 779 trại bất hợp pháp trong năm 2018.

Nguồn: BVR&MT

55 con voi chết đói ở Zimbabwe do hạn hán kỷ lục

Ít nhất 55 con voi tại công viên quốc gia Hwange lớn nhất Zimbabwe đã chết đói trong 2 tháng qua, hạn hán gay gắt khiến chúng không thể kiếm đủ thức ăn.

“Vấn đề thật sự nghiêm trọng và tình hình đang rất tệ”, bà Tinashe Farawo, phát ngôn viên của cơ quan quản lý công viên quốc gia và động vật hoang dã Zimbabwe, cho biết trong một thông báo, theo AP.

Theo bà Farawo, công viên quốc gia Hwange được thiết kế cho 15.000 con voi nhưng hiện tại số lượng voi châu Phi ở đây lên tới 53.000 cá thể. Tình trạng quá tải này dẫn tới việc những con voi không có đủ thức ăn trong thời điểm hạn hán.

Các nhân viên của cơ quan quản lý vườn quốc gia đã phải khoan những giếng rất sâu để tìm nguồn nước cho voi.

Một đàn voi uống nước tại Công viên Quốc gia Hwange, Zimbabwe. Ảnh: Reuters.

“Mối đe dọa lớn nhất đối với những con vật của chúng tôi là việc mất đi môi trường sống. Chúng tôi đã làm giảm đáng kể việc săn trộm. Những năm trước chúng tôi mất hàng trăm con voi vì săn trộm nhưng năm ngoái con số này chỉ là hơn 20 cá thể”, bà Farawo nói.

Trong khi nền kinh tế vẫn đang kiệt quệ, quốc gia phía nam châu Phi đang phải đối mặt với đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong hàng thập kỷ. Việc thiếu nước sạch và thực phẩm diễn ra trầm trọng ở nhiều nơi trên đất nước, thậm chí là cả ở thủ đô Harare.

Và những con vật hoang dã cũng chịu chung số phận, do không thể tìm kiếm đủ thức ăn trong công viên quốc gia, chúng đi lang thang, phá hoại mùa màng và nhiều lần đụng độ với con người. Bà Farawo cho biết đã có hơn 20 người chết vì chạm trán động vật hoang dã kể từ đầu năm.

Zimbabwe sở hữu một trong những quần thể voi lớn nhất châu Phi. Nước này đang tìm cách cho phép săn bắn phục vụ giải trí và xuất khẩu voi nhằm làm giảm áp lực lên môi trường sống đang ngày càng bị thu hẹp của loài này, và cũng để kiếm nguồn ngoại tệ cần thiết cho công tác bảo tồn.

Quan điểm này gặp phải sự phản đối của những nhà bảo tồn và tổ chức bảo vệ động vật hoang dã. Tuần trước, các nhà hoạt động đã mở chiến dịch phản đối kêu gọi chính phủ Zimbabwe hoãn việc bán 35 con voi non cho Trung Quốc và Pakistan.

Nguồn: news.zing.vn

‘Sóc chết đứng khi thấy cáo’ thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019

Con sóc đất ‘chết đứng’ khi thấy cáo, bầy chim cánh cụt co rúc vào nhau sưởi ấm… những bức ảnh xuất sắc nhất cuộc thi Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 cho thấy để sinh tồn, các loài phải chống chọi với sự khắc nghiệt của tự nhiên…

Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 1.
Bức ảnh chụp con sóc đất Himalaya giật mình khiếp sợ khi thấy cáo đã giành giải nhất cuộc thi. Là một trong những động vật có vú sống ở độ cao cao nhất, sóc đất Himalaya dựa vào bộ lông dày để sống sót qua thời tiết lạnh giá. Đông sang, chúng chui vô hang sâu ngủ đông và thường không ló đầu lên mặt đất cho tới mùa xuân.

Ban tổ chức cuộc thi Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 vừa công bố kết quả thi năm nay. Theo đó, bức ảnh chụp con sóc đất Himalaya giật mình khiếp sợ khi thấy cáo giành giải thưởng cao nhất.

Tác giả Yongqing Bao, Trung Quốc kể ban đầu con sóc đất phát hiện ra con cáo và báo động cho bọn sóc đất chui xuống hang. Khoảng một giờ sau nó chui lên tìm thức ăn, không ngờ con cáo vẫn còn đó chờ nó.

Biểu cảm của con sóc đất khi đối mặt cái chết cho thấy cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt trong thiên nhiên, và Bao đã phản xạ nhanh như chớp ghi lại khoảnh khắc này.

Ngoài giải thưởng cao nhất, ban tổ chức cũng chọn ra những bức ảnh xuất sắc ở các hạng mục. Những bức ảnh này sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên ở London, Anh từ ngày 18-10, sau đó được đưa đi triển lãm quốc tế.

Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 2.
“Nếu chim cánh cụt biết bay” của tác giả Eduardo Del Álamo, Tây Ban Nha, hạng mục Hành vi động vật có vú.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 3.
“Co rúc” của Stefan Christmann, Đức.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 4.
“Ong xếp hàng” của Frank Desframol, Pháp, đoạt giải hạng mục Hành vi: Động vật không xương sống.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 5.
‘Chân dung người mẹ’ của tác giả Ingo Arndt, Đức, hạng mục Chân dung động vật. Ảnh chụp con puma mẹ và bầy con. Thông qua chơi đùa, puma mẹ dạy các con những kỹ năng sinh tồn quan trọng như săn bắn, chiến đấu và trốn thoát. Puma con sẽ ở với mẹ hai năm, sau đó ra riêng và sống một mình cho đến khi vào kỳ sinh sản.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 6.
‘Lỗ thủng may mắn’ của Jason Bantle, Canada, hạng mục Động vật hoang dã đô thị. Ảnh chụp một con gấu mèo thò đầu khỏi một chiếc ôtô bị vứt bỏ. Băng ghế sau là ngôi nhà lý tưởng cho nó và 5 đứa con, “cửa” ra vào duy nhất chính là cái lỗ thủng vừa vặn cho nó chui nhưng quá nhỏ so với những kẻ săn mồi như chó sói.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 7.
‘Vùng đất của đại bàng’ của tác giả Audun Rikardsen, Na Uy, hạng mục Hành vi chim chóc.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 8.
‘Đồ uống mát lạnh’ của tác giả Diana Rebman, Mỹ, hạng mục Hành vi chim chóc. Ảnh chụp một con chim bạc má đuôi dài đang uống nước từ băng. Loài chim này sống ở Hokkaido, Nhật Bản. Vào mùa đông chúng dành cả ngày để tìm kiếm nhện, côn trùng, đêm về chúng tụ tập thành nhóm và rúc vào nhau để sưởi ấm.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 9.
‘Ánh sáng đêm’ của Cruz Erdmann, New Zealand, hạng mục Nhiếp ảnh gia 11-14 tuổi. Ảnh chụp một con mực lá – bậc thầy về ngụy trang, có thể thay đổi màu sắc và hoa văn cơ thể bằng cách sử dụng các tế bào da phản chiếu và sắc tố.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 10.
“Cái nôi sự sống” của tác giả Stefan Christmann, Đức.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 11.
“Đón tuyết” của tác giả Max Waugh, Mỹ, hạng mục Ảnh đen trắng.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 12.
“Ngang cơ” của Ingo Arndt, Đức, hạng mục Hành vi động vật có vú.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 13.
“Cú đáp xuống tuyết” của Jérémie Villet, Pháp.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 14.
“Lỗ trời” của Sven Začek, Estonia, hạng mục Môi trường Trái đất.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 15.
“Vườn lươn” của David Doubilet, hạng mục Dưới nước.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 16.
“Thử thách” của Françoir Gervais, Canada, hạng mục Động vật trong môi trường của chúng.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 17.
“Những kẻ du mục trên cao nguyên tuyết” của Shangzhen Fan, Trung Quốc, hạng mục Động vật trong môi trường của chúng.
Sóc chết đứng khi thấy cáo thắng giải Nhiếp ảnh gia động vật hoang dã 2019 - Ảnh 18.
“Trong băng giá “của Jérémie Villet, Pháp.

Nguồn: tuoitre.vn

Tạo trang giống vầy với WordPress.com
Hãy bắt đầu